Tôi hân hạnh giới thiệu bài viết "Trả lời ba câu hỏi của Phùng Nguyễn" của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Đó là ba câu hỏi liên quan đến Sông Mekong và những biến động gần đây, về vụ Nhà văn Ngô Thế Vinh hầu toà thời VNCH về tác phẩm "Mặt trận ở Sài Gòn", và cái nghiệp văn chương của một bác sĩ. Phùng Nguyễn đã qua đời hai năm trước, nhưng Nhà văn vẫn trả lời ba câu hỏi đó trong bài viết dưới đây. NVT
Trả Lời Ba Câu Hỏi của Phùng
Nguyễn
NGÔ THẾ
VINH
Phùng Nguyễn sinh năm 1950,
mất ngày 17 tháng 11 năm 2015.Bàng hoàng với cái chết đột ngột của Phùng Nguyễn
ở cái tuổi đang sung mãn nhất về sinh hoạt trí tuệ và sáng tạo, tôi đã viết bài
tưởng niệm "Phùng Nguyễn, Như Chưa Hề Giã Biệt" (1), nay nhớ tới Anh, có dịp đọc
lại bài viết, mới nhận ra là còn nợ Anh "Ba Câu Hỏi", mang món nợ ấy cũng đã hai
năm, nay là lúc tôi phải trang trải, và cũng là thay cho nén nhang tưởng nhớ
Phùng Nguyễn. Ngô Thế Vinh

Chân dung Phùng Nguyễn [photo by Ngô Thế Vinh
05.2015]
1. Sông
Mê Kông, mối tình
lớn
Sẽ không xa lắm với sự thật nếu cho rằng ai cũng có
một mối tình lớn.Nhà văn Ngô Thế Vinh cũng không ngoại lệ. Người tình của nhà
văn đến từ một vùng hẻo lánh của cao nguyên Tây Tạng (Tibetan plateau) với một
độ cao hơn 5000 mét tính từ mặt biển. Bắt đầu bằng những bước dò dẫm từ vùng
núi non thuộc tỉnh Thanh Hải, nàng lượn lờ suốt chiều dài tỉnh Vân Nam miền Nam
Trung Quốc trước khi lần lượt băng qua biên giới các quốc gia Miến Điện, Lào,
Thái Lan, Cambodia, và cuối cùng Việt Nam, nơi nàng kết thúc cuộc hành trình dài
hơn 4800 km và hòa nhập vào Biển Đông ở các cửa Sông Tiền và Sông Hậu. Nàng được
gọi bằng nhiều cái tên, Dza Chu, Lan Thương, Mea Nam Khong, Tonglé Thom, Cửu
Long… Tuy nhiên nàng được biết đến nhiều nhất dưới cái tên Mekong.
Sông Mekong là nguồn cảm hứng của tiểu thuyết dữ kiện
nổi tiếng “Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng” và ký sự “Mekong Dòng Sông
Nghẽn Mạch” cũng như hàng chục bài biên khảo, nghiên cứu giá trị về những biến
đổi của hệ sinh thái của Sông Mekong trong những thập niên vừa qua của nhà văn
Ngô Thế Vinh. Nguồn cảm hứng này đã, qua năm tháng, biến nhà văn Ngô Thế Vinh
thành một chuyên gia về dòng sông quan trọng bậc nhất của vùng Đông Nam
Á.
Bởi vì giá trị kinh tế cũng như những nội hàm nghiêm
trọng của những biến đổi hệ sinh thái của dòng Sông Mekong dọc con đường ra biển
lớn, quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia lên hệ trở nên rối rắm hơn, đặc biệt
khi những con đập thủy điện lớn nhỏ được dựng lên ở thượng nguồn lẫn hạ lưu Sông
Mekong. Việt Nam gặp nhiều khó khăn về các mặt kinh tế và ngoại giao hơn bất cứ
quốc gia nào khác trong vùng khi phải đối phó với những vấn đề nhức đầu liên
quan đến những thay đổi bất lợi của hệ sinh thái Sông Mekong và trong cùng lúc,
âm mưu bành trướng của Bắc Kinh ở Biển Đông.
Thưa nhà văn Ngô Thế Vinh, điều gì ở dòng Mekong đã
làm anh say đắm? Ở vị trí của một người am hiểu tình hình, anh có thể chia sẻ
với người đọc viễn kiến của anh về những thay đổi hệ sinh thái của sông Mekong
và hậu quả của chúng trong một tương lai có thể nhìn thấy
được?
1. Ngô Thế
Vinh
Năm 1995, tôi có kỷ niệm về
một ngày rất khó quên với nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến nơi thủ đô tỵ nạn Little
Saigon. Ðó vào sáng thứ Bảy của một ngày tiết Thu nắng đẹp miền Nam
California,anh Như Phong hôm ấy rủ tôi tới gặp mấy người bạn trẻ thuộc Nhóm
Bạn Cửu Long mà tôi chưa hề quen biết nhân có buổi mạn đàm đầu tiên tại
Phòng Sinh Hoạt nhật báo Người Việt. Trên bàn thuyết trình hôm đó có kỹ sưPhạm
Phan Long, tiến sĩ Phạm Văn Hải và nhà báo Ðỗ Quý Toàn. KS Phạm Phan Long có thể
nói là người đầu tiên ở hải ngoại lên tiếng báo động về những hiểm họa sắp xảy
đến cho dòng Sông Mekong khi Trung Quốc có kế hoạch xây một chuỗi những con đập
Bậc thềm Vân Nam; tuy lúc đó chỉ mới có một con đập dòng chính đầu tiên
Manwan/Mạn Loan 1,500 MW vừa được xây xong (1993) trên sông Lancang -- tên Trung
Quốc của con Sông Mekong.
Ngày hôm ấy với tôi quả là mối
“duyên khởi” bởi vì đây cũng là lần đầu tiên tôi tiếp cận với một vấn nạn mới mẻ
của đất nước: đó là những bước phát triển “không bền vững/non-sustainable
development” của con Sông Mekong mà Việt Nam / Đồng Bằng Sông Cửu Long
(ĐBSCL) là quốc gia cuối nguồn. Cũng từ đó tôi được làm quen với những người bạn
mới như KS Phạm Phan Long, KS Ngô Minh Triết, KS Nguyễn Hữu Chung và rồi thêm
những người bạn khác của Mekong Forum, tiền thân của Hội Sinh Thái Việt/ Viet
Ecology Foundation về sau này.
Rồi phải kể tới một bài báo
đăng trên tờbáo Tuổi Trẻ trong nước số Chủ Nhật (03-11-1996): "Khai thác sông
Mekong: nhìn từ góc độ Việt Nam" tuy đứng tên Phạm Phan Long nhưng là do 4
người viết, họ đều là những chuyên gia từ hải ngoại: TS Phạm Văn Hải (Mỹ), KS
Nguyễn Hữu Chung (Canada), TS Bình An Sơn (Úc), KS Phạm Phan Long (Mỹ).Nội dung
bài viết ấy cho tới nay vẫn còn nguyên tính thời sự.Và riêng tôi, ý thức ngay
được đây là một vấn đề nghiêm trọng, lâu dài liên quan tới con Sông Mekong,
ĐBSCL cũng là vựa lúa của cả nước.
Năm 1999, một Hội nghị Mekong
mở rộng do Mekong Forum và Vietnamese American Science & Technology Society
đồng tổ chức tại Nam California với chủ đề: “Hội thảo về Sông Mekong trước
Nguy cơ, Ảnh hưởng Phát triển trên Dòng sông, Ðồng Bằng Sông Cửu Long và Cư
dân”với sự tham dự của liên hội Tiền Giang và Hậu Giang, TS Sin Meng Srun
Hội người Cam Bốt tại Mỹ, và Aviva Imhof thuộc tổ chức Mạng lưới Sông Quốc tế/
International Rivers Network. Kết thúc hội nghị là một bản Tuyên Cáo “The 1999
Mekong River Declaration” được gửi tới Uỷ Hội Sông Mekong /MRC/Mekong River
Commission và nhiều tổ chức liên hệ
khác.
Nhà báo Như Phong, cho đến
ngày anh mất, vẫn cùng chúng tôi tham gia sinh hoạt của Nhóm Bạn Cửu Long với
tầm nhìn “địa dư chính trị/geopolitics” rộng mở trước những nan đề của Sông
Mekong gắn liền với vận mệnh của đất nước.
Cũng trong khoảng thời gian
ấy, tôi đã thực hiện những chuyến đi quan sát thực địa từ Vân Nam Trung Quốc
xuống các quốc gia Lào, Thái Lan, Cam Bốt và ĐBSCL Việt Nam. Qua các chuyến đi
ấy, cũng để thấy rằng sự suy thoái của con Sông Mekong là hậu quả dây chuyền của
những bước khai thác tự huỷ, tàn phá sinh cảnh, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên,
gây ô nhiễm môi trường... tất cả những hiện tượng tiêu cực ấy đã và đang diễn ra
nhanh hơn dự kiến của nhiều người.
Và cho tới nay 1995-2017, cũng
đã 22 trôi năm qua rồi, tôi vẫn là người bạn đồng hành bền bỉ với Nhóm Bạn
Cửu Long, như những con chim “báo bão” về những bước khai thác huỷ hoại từ
các quốc gia thượng nguồn Sông Mekong mà con chủ bài thực sự vẫn là nước lớn
Trung
Quốc.
Cũng để thấy rằng cho đến nay,
nói chung ngót 20 triệu dân sống nơi ĐBSCL thì vẫn "mù thông tin", vẫn không
nghĩ rằng họ có quyền có tiếng nói bảo vệ những dòng sông lớn nhỏ như mạch sống
của mình, nếu không muốn nói là phó mặc hay buông
xuôi.
Theo lượng giá 2010 của Toán
Đặc Nhiệm Lượng Giá Môi Sinh Chiến Lược / Strategic Environmental Assessment
thuộc International Center for Environmental Management / ICEM [Úc] thì ngoài
những con đập Bậc thềm Vân Nam, những con đập dòng chính Hạ lưu sẽ gây ra những
tác hại dây chuyền nghiêm trọng như: (1) Làm biến đổi dòng chảy; (2) Gây nguy
hại tới nguồn cá và an toàn thực phẩm; (3) Đe doạ tính đa dạng của hệ thuỷ sinh;
(4) Thay đổi toàn hệ sinh thái của dòng sông; (5) Giảm trữ lượng phù sa làm mất
cân bằng dòng chảy, gây sạt lở bờ sông, các vùng ven biển; (6) Ảnh hưởng sút
giảm trong sản xuất nông nghiệp nhất là cho hai vùng châu thổ Tonlé Sap, ĐBSCL;
(7) Làm tổn hại vĩnh viễn nếp sống văn hóa cổ truyền dân cư Mekong trong vòng
mấy thập niên
tới.
Không phải chỉ có sự huỷ hoại
từ những con đập thuỷ điện, còn phải kể tới kế hoạch chuyển dòng lấy nước từ
Sông Mekong của Thái Lan, kế hoạch đặt mìn phá đá các khúc ghềnh thác của con
Sông Mekong của Trung Quốc và Thái Lan để mở rộng thuỷ lộ giao thông... với thời
gian đó là những bước huỷ hoại tích lũy không thể đảo
nghịch.
Có thể nhắc lại vài hậu quả
nhãn tiền: những năm gần đây, ngay cả Mùa Mưa, con Sông Tonlé Sap không còn đủ
sức tiếp nước cho Biển Hồ -- như trái tim của Cam Bốt thì đang cạn dần; năm 2016
vừa qua ĐBSCL đã không còn Mùa Nước Nổi và bị hạn hán khốc liệt... Sự kiện Thủ
tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng phải kêu gọi Trung Quốc xả nước từ hồ chứa
con đập Cảnh Hồng/ Jinhong để cứu hạn cho ĐBSCL đã là một tín hiệu rất bi
đát.
Điều
gì đáng lo ngại nhất hiện nay? Rõ ràng Việt Nam đã mất cảnh giác và thiếu chuẩn
bị trong cuộc chiến môi sinh “không tuyên chiến” của Trung Quốc.Lẽ ra giới lãnh
đạo phải tiên liệu nguy cơ này từ nhiều năm trước. Nay lại thêm 9 dự án đập dòng
chính hạ lưu của Lào và 2 của Cam Bốt sẽ khiến bài toán cứu nguy ĐBSCL khó khăn
và phức tạp hơn nhiều, mà Việt Nam thì chưa có một chiến lược đối
phó.
Với tầm nhìn địa dư chính trị
trên toàn vùng, chúng ta đang phải chứng kiến một con Sông Mekong-Cửu Long cạn
dòng, một Biển Đông đang dậy sóng, mạch sống của dân tộc đang bị chiếm đoạt và
vắt kiệt do một Trung Quốc rất hung hăng và không ngừng tham vọng bành
trướng.
SarDesai khi nghiên cứu về
Việt Nam đã nhận định rất đúng là trong suốt dòng lịch sử, hai yếu tố vừa phá
huỷ vừa tạo dựng xã hội Việt Nam đó là: vừa phải đối đầu với cường địch Phương
Bắc và vừa chống chỏi với khắc nghiệt của thiên nhiên và thay đổi khí hậu/
climate change như hiện nay; Việt Nam thì vẫn kẹt cứng trong vòng kim cô
ấy.
Việt Nam khi bị mất Hoàng Sa,
Giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã viết trên tạp chí Sử Địa 1974: "Một gương sáng lịch
sử là mỗi khi thế nước suy hèn vì chia rẽ và nội loạn thì mỗi khi lân bang lấn
cõi... Ngày nay vụ Hoàng Sa, [14 năm sau, 1988 thêm vụ Trường Sa, ghi chú của
người viết] bị chiếm là triệu chứng cụ thể gây nên bởi sự bất hoà của dân ta...
tuy rằng nhiều chứng xưa nay, trong ngoài bảo rằng đó là đất Việt."Và cũng
để thấy rằng, nguyên nhân của một thế nước suy hèn và chia rẽ dân tộc hiện nay
là do đảng Cộng sản Việt Nam rất lệ thuộc Trung
Quốc.
Chỉ có dân chủ hoá đất nước
mới có cơ hội đoàn kết và phục hồi nội lực của dân tộc; như yếu tố thiết yếu để
sống còn.
2. Ra
tòa vì “Mặt trận ở Sài Gòn” năm
1972
Năm 1972, tạp chí Bách Khoa Sài Gòn thực hiện buổi
phỏng vấn nhà văn Ngô Thế Vinh nhân việc tác giả “Mặt trận ở Sài Gòn” phải ra
hầu tòa. Trong Lời Tòa soạn, tạp chí Bách Khoa giới thiệu tác giả và sự kiện như
sau:
Nhà văn Ngô Thế Vinh, tác giả truyện dài Vòng Đai Xanh
vừa nhận được giải thưởng bộ môn Văn trong Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc
1971 trước Tết, thì sau Tết lại nhận được trát gọi ra tòa về bài "Mặt trận ở Sài
Gòn" trên tạp chí Trình Bày số 34, có "luận điệu phương hại trật tự công cộng và
làm suy giảm kỷ luật, tinh thần chiến đấu của quân đội." Nếu giải Văn trao cho
Vòng Đai Xanh không gây dư luận sôi nổi như giải Thơ thì trái lại vụ án Ngô Thế
Vinh đã là đề tài cho rất nhiều anh em cầm bút trên các nhật báo cũng như tuần
báo, tạp chí, trên báo dân sự cũng như báo quân đội và dư luận đã nhất trí bênh
vực nhà văn quân đội mà ngày lĩnh giải thưởng văn chương vẫn còn lận đận hành
quân ở Cao nguyên. Do đó mà có cuộc đàm thoại sau đây để độc giả Bách Khoa biết
rõ tác phẩm trúng giải Vòng Đai Xanh đã được thai nghén hình thành ra sao, và
tác giả Vòng Đai Xanh đã quan niệm vụ án của anh thế nào.
Cũng xin ghi lại: Ngô Thế Vinh sinh năm 1941 ở Thanh
Hóa, Anh đã là chủ bút báo Tình Thương, cơ quan tranh đấu văn hóa xã hội của
Sinh viên Y khoa 63-67. Tốt nghiệp y khoa năm 1968, anh gia nhập quân y, phục vụ
tại Lực lượng Đặc biệt và đã giữ chức vụ y sĩ trưởng Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Tác phẩm đã xuất bản: các tiểu thuyết Mây Bão (1963), Bóng Đêm (1964), Gió Mùa
(1965) và Vòng Đai Xanh (1970).
Thưa anh Ngô Thế Vinh, vụ án “Mặt trận ở Sài Gòn” cho
thấy chế độ kiểm duyệt ở miền Nam vào thời điểm phiên tòa diễn ra cũng khắc
nghiệt không kém gì chế độ kiểm duyệt của chính quyền CS Hà nội. Cũng tịch thu,
cũng đục bỏ, cũng trừng phạt, thậm chí đưa người viết ra tòa. Là người trong
cuộc, anh có những nhận xét nào về chế độ kiểm duyệt ở hai miền?Có công bằng hay
không khi cho rằng chế độ kiểm duyệt của miền Nam “tốt” hơn hoặc “tử tế” hơn của
miền Bắc?
2. Ngô Thế
Vinh
Trước khi đi vào cuộc thảo
luận chi tiết, tôi có thể trả lời ngayanh Phùng Nguyễn rằng, về "bản chất" chế
độ chính trị hai Miền Nam Bắc hoàn toàn khác nhau,nên khi nói về "chế độ kiểm
duyệt" bất cứ một so sánh nàocũng khập khễnh và khiên cưỡng vì đã khôngcó cùng
một hệ thống giá trị quy chiếu.
Với đảng cộng sản, bản chất là
chuyên chính;không có tự do tư tưởng, không có tự do học thuật; sự tàn nhẫn của
đối với trí thức và văn nghệ sĩ Miền Bắc là một chính sách nhất quán: đó là sự
cưỡng chế thô bạo,bắt họ phải khuất phục và trở thành công cụ vô điều kiện của
đảng. Nếu không thế, họ đương nhiên trở thành kẻ thù của đảng, nhưng với vỏ bọc
là kẻ thù của nhân dân.Họ hoặc bịtiêu diệt bằng khổ sai tù đầy mà không bao giờ
được công khai xét xử,hoặc nếu không thìcũng bị cô lập,đầy đoạ đói khát vàvô
hiệu hoá cho đến chết, chưa nói tới gia đình người thân của họ cũng bị trù dập
và liên luỵ.
Miền
Bắc chính thức "không có bộ phận kiểm duyệt" nhưng tinh vi hơn thế nữa là do cả
một guồng máy đàn áp đưa tới sự khiếp sợ khiến "kiểm duyệt" đã nằm ngay trong
đầu mỗi nhà văn nhà báo và trở thành một thứ quán tính trong phản xạ vô thức, họ
đã khắt khe "tự kiểm duyệt trong khi viết", chính sách ấy hiểm độc và tàn ác hơn
nhiều vì nó đã phá huỷ con người và triệt tiêu mọi tiềm năng sáng tạo. Vụ án
Nhân văn Giai phẩmnhư một điển hình nhưng cũng để thấy rằng đó chỉ là phần nổi
thấy được của khối băng hà / Tip of the Icebergtrải
dài trong suốt hơn 70 năm lịch sử chuyên chính của đảng cộng sản Việt
Nam.
Trở lại với Văn học Miền Nam
54-75, phải nói ngay rằng không có văn nghệ sĩ sáng tạo nào mà không có "dị ứng"
khi nói tới kiểm duyệt. Không bênh vực nó nhưng chúng ta cần đặt mình trong bối
cảnh đất nước lúc đó, với cuộc chiến quốc cộng đang diễn ra khốc liệt, cộng sản
nằm vùng hiện diện cùng khắp, họ cũng nhân danh tranh đấu cho tự do dân chủ
nhưng thực chất là cố tạo một hậu phương mất ổn định,cả gây rối loạn làm suy yếu
nền Cộng Hoà non trẻ của Miền Nam mới bước ra từ một chế độ phong kiến. Và đó
cũng là lý do tồn tại một hệ thống kiểm duyệt nhằm ngăn chặn xâm nhập của cộng
sản.
Rồi còn phải kể tới sự cần
thiết của một mặt trận chống "gian thương văn hoá" từ giới Ba Tàu Chợ Lớn
rất vô luân, nguỵ trang số kiểm duyệt in lậu và phát hành tràn lan các sách
khiêu dâm đồi truỵ và nguy hại hơn nữa là in các sách báo nhi đồng nhảm nhí với
hậu quả là đầu độc giới trẻ thanh thiếu niên.
(5)
Hồi
tưởng lại bối cảnh sinh hoạt ở hậu phương Miền Nam lúc đó, điển hình là hai
thành phố lớn Sài Gòn và Huế.Trong lúc khắp chiến trường đang sôi động thì ngay
tại các thành phố cũng không hề có yên tĩnh và đang diễn ra một cuộc chiến tranh
khác.Riêng tại Sài Gòn, tôi muốn đề cập các vụ ám sát sinh
viên, giáo sư và nhà báo do Thành đoàn Cộng sản chủ trương.Khi ấy tôi đang là
sinh viên, trong ban biên tậprồi là Chủ bút Nguyệt san Tình Thường của sinh viên
Y khoa Sài gòn (1964-1967),tôi có thể nói như là một trong những nhân chứng sống
của giai đoạn sôi động
này:
“Cũng nên ghi lại một số sự kiện nay đã thuộc về lịch
sử: chỉ riêng với trường Y khoa, đã có hai giáo sư bị sát hại [Gs Trần Anh, Cơ
Thể học và Gs Lê Minh Trí chuyên khoa Tai Mũi Họng], rồi đến sinh viên Y khoa II
Trần Quốc Chương [con của Thẩm phán Trần Thúc Linh] có một giai đoạn vào bưng,
sau trở về học lại thì bị trói tay bịt miệng ném từ lầu ba xuống đất ngay trong
vòng thành trường Y khoa trên đường Hồng Bàng, một cái chết rất thảm khốc. Sinh
viên Luật khoa Lê Khắc Sinh Nhật cũng bị bắn chết. Hai sinh viên khác bên Văn
Khoa cũng bị nhóm Biệt Động Thành bắn trọng thương nhưng may mắn sống sót là Ngô
Vương Toại, Bùi Hồng Sĩ, hai anh ấy hiện đang sống ở Mỹ. [Ngô Vương Toại đã mất
ở Mỹ
03.04.2014]
Riêng tôi, khi ấy đang là sinh viên Y khoa, trong Ban
Đại Diện trường Y khoa và cũng là chủ bút báo Sinh viên Tình Thương cùng các bạn
đồng môn tranh đấu cho nền tự trị đại học, cả với nỗ lực ngăn chặn sự xâm nhập
của cộng sản nên cũng đã bị Thành đoàn CS ghi vào “sổ bìa đen”của đội quyết tử
cảnh cáo cùng với 17 sinh viên thuộc các phân khoa khác.
(4)
Rõ ràng có một cái giá phải trả của giới làm báo kể cả
làm báo sinh viên trong suốt giai đoạn đó [nói tới sinh hoạt báo chí của Miền
Nam 1954- 1975, không thể không nhắc tới sự hy sinh của các nhà báo như Từ Chung
ký giả nhật báo Chính Luận [1965], một nạn nhân nổi tiếng khác bị ám sát nhưng
thoát chết là nhà văn Chu Tử, chủ nhiệm nhật báo Sống [1966],” (3)
Sau khi ra trường, tôi tình
nguyện về binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, phục vụ tại Liên đoàn 81 Biệt cách Dù;
với địa bàn hoạt động chủ yếu là Tây Nguyên, tôi vẫn tiếp tục viết như một người
lính: Vòng Đai Xanh 1970 và Mặt Trận ở Sài Gòn 1972 được hoàn tất trong giai
đoạn quân ngũ này.
Nay nếu nhìn lại, phải nói
rằng hệ thống kiểm duyệt ở Miền Nam lúc đó khá cục bộ và cũng do trình độ yếu
kém của bộ phận kiểm duyệt, nên dẫn tới cấm đoán một vài tác phẩm giá trị của
những tác giả sáng tác trong tự do nhưng rồi mỗi tác giả ấy vẫn có cơ hội để đối
thoại với sở phối hợp văn học nghệ thuật của Bộ Thông
Tin.
Vàkhi làm báo Sinh viên Tình
Thương, cho dù đôi lần phải đối đầu với tướng an ninh quân đội Nguyễn Ngọc Loan
nhưng sau đó đã không có trù dập theo dõi của bộ phận cảnh sát hay an ninh quân
độichỉ vìtờ báo có quan điểm đối lập hay do các tác phẩm bị cấm kỵ. Tưởng cũng
nên nhắc lại ở đây là trong giai đoạn 54-75, vẫn có những cây bút được biết là
nằm vùng như Vũ Hạnh, Nguyễn Ngọc Lương vẫn được công khai hoạt động viết sách
vàcả ra
báo.

Từ phải: Phùng Nguyễn, Ngô Thế Vinh at Duke's, Huntington
Beach 05.2015
Tôi cũng muốn ghi lại ở đây
một số kinh nghiệm bản thân như một người viết ở Miền Nam trong giai đoạn
đó:cuốn tiểu thuyết đầu tayMây Bão1963, ban đầu không được giấy phép của
hội đồng kiểm duyệt. Tôi lên Bộ Thông tin để khiếu nại, năm ấy tôi đang là sinh
viên Y khoa mới 22 tuổi. Tôi đã được ông Giám Đốc Thông Tin Phạm Xuân Thái tiếp,
ông ấy rất trí tuệ và hoà nhã. Ông cho biết chưa đọc cuốn sách nhưng theo tường
trình của ban kiểm duyệt thì cuốn sách có nội dung phản ánh quá nhiều nét tiêu
cực của xã hội lúc bấy giờ. Ông trao đổi với tôi về quan niệm thiên chức của nhà
văn: cần phản ánh cả phần chính diện của xã hội thay vì chỉ có phản diện; và rồi
theo yêu cầu của tôi, ông đồng ý giao cho một nhân viên khác trong hội đồng kiểm
duyệt đọc lại Mây Bão. Người đọc thứ hai ấy là Nguyễn Thanh Đàm, không ai
khác lại chính là nhà thơ Song Hồ. Anh ấy rất thích Mây Bão và nói rằng
tác phẩm đầu tay của tôi có nét của một tác phẩm lớn trong tương lai. Sách được
giấy phép xuất bản, nhà thơ Song Hồ trở thành bạn văn của tôi những năm sau này
cho đến ngày anh mất ở Mỹ năm
2009.
Rồi tới cuốn Vòng Đai Xanh
1970, một tiểu thuyết tư liệu viết về cuộc chiến tranh bị lãng quên trong cuộc
Chiến tranh Việt Nam đang diễn ra lúc đó. Các sắc dân Thượng nổi dậy vớiphong
trào FULRO/ Front Unifié de Lutte des Races Opprimées đòi quyền tư trị
cho vùng Tây Nguyên.Vòng Đai Xanh cũngbị cấm đoán lúc ban đầu nhưng đã được nhà
văn quân đội Thế Uyên, chủ trương Nhà xuất bản Thái Độ kiên trì đối thoại với Bộ
Thông Tin, và sách được xuất bản và cả được trao giải văn học sau
đó.
Hiện tượng "cũng tịch thu,
cũng đục bỏ, cũng trừng phạt, thậm chí đưa người viết ra tòa"theo tôi đó chỉ là
phản ứng theo hoàn cảnh, rất nhất thời, và cũng do trình độ nhận thức rất khác
nhau của các thành phần nhân sự trong hội đồng kiểm duyệt. Các biện pháp chế tài
trừng phạt, kể cả ra toà mang nặng tính hình thức của trò chơi dân chủ, và những
tình huống xem có vẻ như cực đoan ấy kết cục có thể so sánh với những trận
bão trong ly trà/ storm in a teacup, và để rồi sau đó mọi sự trở lại sinh
hoạtgần như bình thường.
Thêm một ví dụ, năm 1972, khi
ấy nhà văn Nguyễn-Xuân Hoàng đang ở Sài Gòn làm báo và dạy học, tôi thì theo đơn
vị hành quân trên Tây nguyên; nhưng cả hai cùng trải qua một kinh nghiệm tưởng
cũng nên ghi lại. Do truyện ngắn Mặt Trận ở Sài Gòn đăngtrên tạp chí
Trình Bầy tôi nhận được trát ra hầu toà với tội danh "dùng báo chí phổ biến
luận điệu phương hại trật tự công cộng và làm suy giảm kỷ luật tinh thần chiến
đấu của quân đội", mà chính tôi đang là một thành phần trong đó. Khi về Sài
Gòn để ra hầu toà, gặp Nguyễn Xuân Hoàngtôi được biết anh cũng nhận được trát
toà vì một truyện ngắn Cha và anh trên tờ báo Vấn Đề của nhà văn Vũ Khắc
Khoan, trong đó Hoàng có nhắc tới bài hát Bà mẹ Gio Linh của Phạm
Duy.
Tôi và Hoàng đều ra toà, đều
có những luật sư bạn tình nguyện biện hộ.Kết thúc bằng hai bản án mang tính
tượng trưng. Nguyễn Xuân Hoàng sau đó vẫn trở lại dậy học và làm báo, riêng tôi
thì trở về với đơn vị hành quân và không lâu sau đó vẫn được đi tu nghiệp chuyên
môn ngành Y khoa Phục hồi ở San Francisco, Hoa Kỳ. Tôi và Hoàng vẫn có sách xuất
bản.Và đời sống thì vẫn không ngừng chảy, nói theo ngôn từ Nguyễn-Xuân Hoàng.Đây
là điều không thể nào hiểu được đối với giới văn nghệ sĩ sống trong chế độ cộng
sản ở Miền Bắc và rồi cả ở Miền Nam sau 1975.
Trong bối cảnh ngoàitiền tuyến
thì đầy máu lửa, và một hậu phương cũng không kém sôi động nóng bỏng như thế,
nhưng nói chung các văn nghệ sĩ Miền Nam trong một chừng mực nào đó vẫn có một
không gian cho tự do sáng tác. Cứ nhìn lại số lượng đồ sộ và đa dạng của những
tác phẩm của 20 năm Văn học Miền Nam 54-75 đã chứng minh điều
đó.
Là người viết, chưa bao giờ
lên tiếng bênh vực cho sự hiện hữu của một hệ thống kiểm duyệt nhưng rồi có
khoảng cách thời gian để nhìn lại, có thể coi đây như những "tổn thất phụ/
collateral damages" trong cuộc đấu tranh quốc cộng mà văn hoá và truyền
thông báo chí là một trận tuyến
khác.
3. Chân
dung văn nghệ
sĩ
Tháng 11 năm 2010, tạp chí Da Màu ấn hành bài viết
“Một Cao Xuân Huy Khác” của Ngô Thế Vinh để tưởng nhớ tác giả “Tháng Ba Gãy
Súng” trong một cách thế rất khác thường. Bài viết bắt đầu với phần giới thiệu
và giải thích Melanoma, một căn bệnh ung thư hiếm hoi mà nhà văn Cao Xuân Huy đã
bất hạnh vướng phải và đành chia tay với trần gian một cách vội vã. Tháng 6 năm
2014, cũng trên tạp chí Da Màu, nhà văn Ngô Thế Vinh gửi đến bạn đọc
“Nguyễn-Xuân Hoàng trên con dốc Tử Sinh.” Không giống như bài viết về Cao Xuân
Huy, “Nguyễn Xuân Hoàng trên con dốc Tử Sinh” là một cái nhìn khá cân bằng của
tác giả dành cho nhà văn Nguyễn-Xuân Hoàng về các mặt con người, văn chương, và
bệnh lý. Theo người viết, chính là ở thời điểm này, nhà văn Ngô Thế Vinh bắt đầu
song hành với bác sĩ Ngô Thế Vinh, cựu y sĩ trưởng Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù,
trên cuộc hành trình tạo dựng [lại] diện mạo của các nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ
thân thuộc của ông. Sau Cao Xuân Huy, Nguyễn-Xuân Hoàng là Nghiêu Đề, Dương
Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền.Rồi Võ Phiến, Mặc Đỗ, Linh Bảo, Nguyễn Đình Toàn,
Nhật Tiến. Và gần đây nhất, Đinh Cường. Người viết, đồng thời là người đọc trung
thành, ước mong nhà văn Ngô Thế Vinh tiếp tục cuộc hành trình kỳ thú
này.
Một nhận xét được nhiều người chia sẻ: Tuy thành phần
văn nghệ sĩ được nhà văn Ngô Thế Vinh chọn để vẽ chân dung thì đa dạng, nhưng có
một đặc điểm chung, họ hoặc đã qua đời, hoặc, trong vòng quay Sinh Lão Bệnh Tử,
ở vào buổi chiều tà bóng xế của đời người. Bạn đọc băn khoăn: Liệu đây có phải
là một trong những yếu tố quan trọng để nhà văn Ngô Thế Vinh chọn đưa vào loạt
bài chân dung văn nghệ sĩ?
Quá [sinh tử] quan này gánh
chân dung
Nửa bầu y sĩ, nửa thùng văn
gia!
Có bao nhiều phần văn chương, bao nhiêu phần y học ở
mỗi bức chân dung, thưa anh Ngô Thế
Vinh?
3. Ngô Thế
Vinh
Loạt bài chân dung văn nghệ sĩ
đến với tôi như một sự "tình cờ".Khởi đi từ một bài viết "Nhớ về người bạn
Tấm Cám Nghiêu Đề";hoạ sĩ Nghiêu Đề là một cố tri từ tuổi rất thanh xuân,
sau bài viết đó, tôi nhận được feedbacks từmấy người bạn cũ của Nghiêu
Đề;trong số đó có Đinh Cường, tỏ ra rất tâm đắc với bài viết và đã đưa ra nhận
định: không thể viết về Nghiêu Đề hay hơn Ngô Thế Vinh nên Đinh Cường có đề nghị
sẽ đưa vào cuốn sách Đi Vào Cõi Tạo Hình IIsắp xuất bản viết về những hoạ
sĩ cùng thời từ 1957 đến 1966, năm thành lập Hội Hoạ Sĩ Trẻ Việt Nam.Với tôi,
thì đề nghị của Đinh Cường là một niềm vui.Rồi phải kể tới những khích lệ của
các bạn văn như anh Phạm Phú Minh Diễn Đàn Thế Kỷ, anh Phùng Nguyễn chủ biên Da
Màu, nhà thơ Thành Tôn...mỗi khi đọc một bài mới chân dung văn nghệ
sĩ.
Bác
sĩ Hà Ngọc Thuần, mộtbạn đồng môn, hiện sống ở Úc từng làm báo sinh viên Y khoa
Tình Thương với tôi từ 1964 - 1967, được coi là một trong những cây bút
academic của SVYK Sài Gòn lúc bấy giờ, trong một eMail mới đây anh
viết: "Với những bài trên Web của
Ngô Thế Vinh chúng ta đã đọc, anh thật-sự đã thành công trong loại essai
biographique. Với những dòng ngắn gọn, những nét chấm phá, vài mẩu chuyện
tâmtình, giớithiệu con người và tácphẩm của nghệsĩ, với những chitiết đặcbiệt
khiến cho người đọc làm quen và lập tức có cảm tình với người nghệsĩ. Và muốn
biết thêm nhiều hơn nữa.
Với loại "web-essay" của thờiđại tiếnbộ kỹthuật, chúng
ta có những bài ngắn mà côđọng hơn, nhiều hình ảnh hơn, và rất có thể,
có những đoạn phim sống-động với tiếng nói và âm-nhạc... Như bài viết về Nguyễn
Đình Toàn, chúng ta có thể nghe CD Nhạc Chủ Đề từ hơn nửa thế kỷ trước, về Hoàng
Ngọc Biên, chúng ta có thể nghe bản nhạc Hồ Thu do ca sĩ Ngọc Mai hát và rất ít
ai biết Hoàng Ngọc Biên còn là một nhạc sĩ. Với bài viết về các hoạ sĩ, chúng ta
được thưởng thức nhiều những bức tranh full color mà với kỹ thuật ấn loát cổ
điển rất khó mà có thể thực hiện được".
Anh Phạm Phú Minh, tác
giả Hà Nội Trong Mắt Tôi, chủ bút Diễn Đàn Thế Kỷ, một hôm anh bất chợt
nói với tôi: "Bây giờ thì tôi có một cái nhìn khác về anh Vinh..." câu
nói của anh khiến tôi hơi ngạc nhiên, anh Minh giải thích: "từ trước đến nay,
tôi vẫn nghĩ anh là một người nghiên cứu về Sông Mekong, nhưng nay tôi lại nghĩ
khác, anh Vinh bây giờ là một ngòi bút viết về chân dung các văn nghệ sĩ Việt
Nam ở hải ngoại."
Vẫn
anh Phạm Phú Minh, trong một dịp phát biểu khác khi anh đọc bài viết Những
Năm Ảo Vọng, GS Phạm Hoàng Hộ và bộ sách Cây Cỏ Việt Nam:"Nếu
tôi nói bài của anh Vinh viết về Phạm Hoàng Hộ là rất hay, thì hình như tôi chưa
nói gì cả. Chữ "hay" thông thường ấy quá tổng quát, không nói lên được gì về
tính chất các bài viết của anh.Phải nói một bài như bài này nó có tính chất bác
học, rộng khắp.Mà lãnh vực nào anh cũng đạt tới trình độ rộng khắp như vậy:
những tình cảm sâu xa của một nhà văn, vấn đề chuyên môn của một nhà khoa học,
sự đe dọa tương lai của một dòng sông... đề tài nào anh cũng đề cập tới với tất
cả các khía cạnh cần biểu đạt của
nó."
Nghiên cứu về Sông Mekong là
một dự án tôi đã và đang theo đuổi hơn 20 năm qua, nhưng viết về chân dung các
văn nghệ sĩ, thì tôi chưa hề có một dự án như vậy. Mỗi lần có dịp viết về một
bạn văn nghệ, một khuôn mặt văn hoá,ghi lại một chặng đường, một đoạn đời của
một thời kỳ từng sống và chia sẻphải được kể là khoảnh khắc rất hạnh
phúc.
Câu hỏi của anh Phùng Nguyễn,
rằng yếu tố nào đã khiến tôi chọn nhân vật đưa vào loạt bài chân dung văn nghệ
sĩ: rất tình cờ thôi.Không phải, như Anh nói là vì họ "đã qua đời, đã bước
vào buổi chiều tà bóng xế của đời người hay đang lao đao trong vòng quay Sinh
Lão Bệnh Tử", nhưng yếu tố quan trọng nhất là do tôi đã có mối liên hệ quen
biết và thân thiết trước đó;và cũng từ đó tôi đã có thể dễ dàng tiếp cận với
nguồn tư liệu cá nhân và cả những điều khá riêng tư.
Có lần tôi nói chuyện với
Nguyễn Đình Toàn, khi ấy tôi chưa viết về anh, là như một nguyên tắc khi viết,
trong đó có loạt bài chân dung văn học, tôi quan niệmlà bài viết có thể thiếu
nhưng phần tư liệu thì cần chính xác và không thể sai.
Và rồi với câu hỏi, có bao
nhiều phần văn chương, bao nhiêu phần y học ở mỗi bức chân dung?
Không phải ở mỗi chân dung
đương nhiên là có phần y học, phần y học chỉ là tình huống rất cá biệt, như
trường hợp Cao Xuân Huy, Nguyễn-Xuân Hoàng, Đinh Cường...Làm sao không quan tâm
tới phần y khoa khi chính bạn mình bị ngã bệnh và đang cheo leo trên con dốc tử
sinh và cũng không phải người bệnh nào cũng dễ dàng chấp nhận thực trạng bệnh
của mình. Và cũng không dễ dàng gì để mà đào sâu vào phần y học ấy khi niềm đau
của bạn cũng như niềm đau của chính người viết.
Còn
một khía cạnh nữa thuộc lãnh vực medical ethics/ đạo đức y khoa, đó là
quyền "riêng tư" của bệnh nhân mà người thầy thuốc phải tôn trọng. Do đó, không
phải cứ sinh hoạt trong lãnh vực chuyên môn y khoa mà muốn viết gì thì viết và
tôi đã rất tôn trọng nguyên tắc y đức ấy. Như với Cao Xuân Huy, người bạn văn đã
mất, dù đã có tình bằng hữu nhiều năm với
Huy, nhưng tôi chỉ có thể viết về khía cạnh y khoa căn bệnh của Huy khi có được
sự đồng ý của chị Cao Xuân Huy và hai con gái đã trưởng thành của
Anh.
Nếu là những người bạn còn
sống, họ đều được đọc trước bản thảo và có toàn quyền chấp nhận hay không phần y
khoa ấy. Nguyễn-Xuân Hoàng thì chấp nhận toàn bản thảo viết về tiến trình căn
bệnh sarcomamà anh vướng phải.Nguyễn Đình Toàn thì có bày tỏ:"Vinh ơi,
sáng nay đọc bài của bạn, thấy lạ, hình như là chuyện của một người nào khác, dù
mọi điều đều gần đúng như sự thật, tựa coi lại một cuốn phim. Cũng may, những
cái thật ấy nay đã thành giả rồi, [đã qua rồi] nên đỡ sợ."
Riêng với Đinh Cường, ban đầu
anh chấp nhận bản thảo bài viết nhưng sau đó cho biết: "Đọc bài Vinh thấy
sợ" và yêu cầu tôi giản lược tối đa phần y khoa và cả thay thế tấm hình
autoportrait 04.2015mà Đinh Cường gửitặng tôi sau đợt hoá trị/ chemo để cho bài
viết được nhẹ nhàng hơn và dĩ nhiên tiếng nói cuối cùng vẫn là bạn mình và tôi
tuyệt đối tôn trọng.
Với 18 chân dung văn học đã
hoàn tất, tôi nhận được nhiều gợi ý nên cho xuất bản như một tuyển tập, nếu có
một cuốn sách"tạo dựng [lại] diện mạo của các nhà văn, nhà thơ, nghệ
sĩ" như vậy, sẽcó một trang sách riêng đề tặng dành cho Phùng
Nguyễn.
THAY CHO KẾT
TỪ
Chỉ với ba câu hỏi của Phùng
Nguyễngửi Nhã Thuyên, Trần Mộng Tú, Hoàng Hưng...chứng tỏ Anh đã đọc rất kỹ và
thấu tâm can của mỗi người viết mà Anh tiếp cận. Vớinội dung từng câu hỏi tới
phần trả lời của mỗi đối tượng, tôi thấy như manh nha cho dự án một tác phẩm văn
học rất lạ và rất mới của Phùng Nguyễn mà tôi chưa biết Anh sẽ đặt tên là gì.Có
lẽ đây là một trong những công trình dở dang như chính cuộc đời dở dang "đứt
gánh giữa đường" của Phùng
Nguyễn.
Tôi sẽ rất phụ Anh nếu chỉ trả
lời sơ sài các câu hỏi,với tôi mỗi câu hỏicủa Phùng Nguyễn có tính thách đố như
đề cươngcho một bài luận văn. Cho dù Anh không còn nữa, nhưng với lòng quý mến
Phùng Nguyễnvà với tất cả tâm cảm, tôi vẫn hoàn tất phần trả lời cả ba câu hỏi
để gửi tới Anh, đồng thời cũng là gửi tới lớp người trẻ, các thế hệ sinh sau
1975 sau cuộc chiến tranh Việt Nam, như bước tìm lại một khoảng thời gian đã
mất.
PHÙNG NGUYỄN, Virginia
03.2015 NGÔ THẾ VINH, California
03.2017
Ghi
Chú:
(1)Phùng Nguyễn,
Như Chưa hề Giã Biệt, Ngô Thế Vinh.Diễn Đàn Thế
Kỷ
http://www.diendantheky.net/2015/12/ngo-vinh-phung-nguyen-nhu-chua-he-gia.html#more
(2)Lê Ngộ Châu. Tạp chí Bách
Khoa đàm thoại với Ngô Thế Vinh: từ Vòng Đai Xanh tới Mặt trận ở Sài
Gòn. http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=11606&rb=0102
(3) Ngô
Thế Vinh. Nguyệt San Tình Thương 1963 – 1967; Một Thời Nhân Bản. Tập san Y Sĩ,
số 184, 01.2010 . Diễn đàn Cựu Sinh viên Quân Y. http://www.svqy.org
(4) Nguyễn Văn Trung. Đôi điều trao đổi với nhà văn
Mai Kim Ngọc. Văn Học số 124, Hoa Kỳ.trang 68; Gs. Nguyễn Văn Trung kể lại: “Tôi
vẫn còn giữ một danh sách của đội quyết tử cảnh cáo một số sinh viên thuộc các
phân khoa như Ngô Thế Vinh, Y
khoa”.
(5) Nhật Tiến. Vấn đề Kiểm duyệt. Một Tuần lễ ở Toà
soạn Thiếu Nhi. Tuần báo Thiếu Nhi số 91, ngày 27.05.1973
EmoticonEmoticon